The Quarrel of the Monkey and the Crab
A free B1-level English story for language learners, readable online in 7 languages, with an option to listen via the free Storyteller app.
A crab trades her rice-dumpling for a monkey's worthless seed, trusting his promise of future fruit — but greed turns their old friendship into a deadly betrayal.
Long, long ago, one bright autumn day in Japan, it happened, that a pink-faced monkey and a yellow crab were playing together along the bank of a river. As they were running about, the crab found a rice-dumpling and the monkey a persimmon-seed.
Ngày xưa, đã rất lâu rồi, vào một ngày thu tươi sáng ở Nhật Bản, có một chú khỉ mặt hồng và một chú cua vàng đang chơi đùa cùng nhau bên bờ sông. Trong lúc chạy nhảy, chú cua tìm thấy một viên bánh nếp và chú khỉ tìm thấy một hạt hồng.
The crab picked up the rice-dumpling and showed it to the monkey, saying:
Chú cua nhặt viên bánh nếp lên và khoe với chú khỉ, nói rằng:
“Look what a nice thing I have found!”
"Nhìn xem tôi tìm được thứ hay ho gì này!"
Then the monkey held up his persimmon-seed and said:
Rồi chú khỉ giơ hạt hồng của mình lên và nói:
“I also have found something good! Look!”
"Tôi cũng tìm được thứ tốt lắm đấy! Nhìn này!"
Now though the monkey is always very fond of persimmon fruit, he had no use for the seed he had just found. The persimmon-seed is as hard and uneatable as a stone. He, therefore, in his greedy nature, felt very envious of the crab’s nice dumpling, and he proposed an exchange. The crab naturally did not see why he should give up his prize for a hard stone-like seed, and would not consent to the monkey’s proposition.
Dù chú khỉ rất thích ăn quả hồng, nhưng chú lại chẳng có ích gì với cái hạt vừa tìm được. Hạt hồng cứng và không ăn được, chẳng khác gì một hòn đá. Vì vậy, với bản tính tham lam, chú vô cùng ganh tị với viên bánh nếp ngon lành của chú cua, và chú đề nghị đổi. Đương nhiên chú cua chẳng thấy có lý do gì để từ bỏ chiến lợi phẩm của mình để lấy một cái hạt cứng như đá, và không đồng ý với đề nghị của chú khỉ.
Then the cunning monkey began to persuade the crab, saying:
Thế là chú khỉ ranh mãnh bắt đầu thuyết phục chú cua, nói rằng:
“How unwise you are not to think of the future! Your rice-dumpling can be eaten now, and is certainly much bigger than my seed; but if you sow this seed in the ground it will soon grow and become a great tree in a few years, and bear an abundance of fine ripe persimmons year after year. If only I could show it to you then with the yellow fruit hanging on its branches! Of course, if you don’t believe me I shall sow it myself; though I am sure, later on, you will be very sorry that you did not take my advice.”
"Cậu thật dại dột khi không nghĩ đến tương lai! Viên bánh nếp của cậu có thể ăn ngay bây giờ, và chắc chắn to hơn hạt của tôi nhiều; nhưng nếu cậu gieo hạt này xuống đất, chẳng bao lâu nó sẽ mọc lên và trở thành một cây lớn trong vài năm, ra biết bao quả hồng chín ngon lành năm này qua năm khác. Giá mà tôi có thể cho cậu thấy nó với những quả vàng ươm treo trên cành! Tất nhiên, nếu cậu không tin tôi thì tôi sẽ tự gieo lấy vậy; dù tôi chắc chắn rằng sau này cậu sẽ rất hối tiếc vì đã không nghe theo lời khuyên của tôi."
The simple-minded crab could not resist the monkey’s clever persuasion. He at last gave in and consented to the monkey’s proposal, and the exchange was made. The greedy monkey soon gobbled up the dumpling, and with great reluctance gave up the persimmon-seed to the crab. He would have liked to keep that too, but he was afraid of making the crab angry and of being pinched by his sharp scissor-like claws. They then separated, the monkey going home to his forest trees and the crab to his stones along the river-side. As soon as the crab reached home he put the persimmon-seed in the ground as the monkey had told him.
Chú cua ngây thơ không thể cưỡng lại lời thuyết phục khôn khéo của chú khỉ. Cuối cùng chú nhượng bộ và đồng ý với đề nghị của chú khỉ, và cuộc trao đổi đã diễn ra. Chú khỉ tham lam nhanh chóng ngấu nghiến hết viên bánh nếp, và hết sức miễn cưỡng đưa hạt hồng cho chú cua. Chú khỉ cũng muốn giữ luôn cả hạt đó, nhưng chú sợ làm chú cua giận và bị càng cua sắc như kéo của chú cua kẹp. Rồi hai bên chia tay, chú khỉ về nhà trên những tán cây trong rừng, còn chú cua về với những tảng đá của mình dọc bờ sông. Ngay khi về đến nhà, chú cua liền vùi hạt hồng xuống đất như lời chú khỉ đã dặn.
In the following spring the crab was delighted to see the shoot of a young tree push its way up through the ground. Each year it grew bigger, till at last it blossomed one spring, and in the following autumn bore some fine large persimmons. Among the broad smooth green leaves the fruit hung like golden balls, and as they ripened they mellowed to a deep orange. It was the little crab’s pleasure to go out day by day and sit in the sun and put out his long eyes in the same way as a snail puts out its horn, and watch the persimmons ripening to perfection.
Đến mùa xuân năm sau, chú cua vui mừng khi thấy một chồi cây non nhô lên khỏi mặt đất. Mỗi năm nó lại lớn thêm, cho đến khi một mùa xuân nọ nó ra hoa, và mùa thu năm sau nó ra những quả hồng lớn tuyệt đẹp. Giữa những chiếc lá xanh mượt rộng bản, quả treo lủng lẳng như những quả cầu vàng, và khi chín dần chúng chuyển sang màu cam đậm. Chú cua nhỏ rất thích thú ngày ngày ra ngoài ngồi phơi nắng và thò đôi mắt dài của mình ra giống như con ốc sên thò sừng, để ngắm nhìn những quả hồng chín dần đến độ hoàn hảo.
“How delicious they will be to eat!” he said to himself.
"Chúng sẽ ngon lắm khi ăn đây!" chú tự nhủ.
At last, one day, he knew the persimmons must be quite ripe and he wanted very much to taste one. He made several attempts to climb the tree, in the vain hope of reaching one of the beautiful persimmons hanging above him; but he failed each time, for a crab’s legs are not made for climbing trees but only for running along the ground and over stones, both of which he can do most cleverly. In his dilemma he thought of his old playmate the monkey, who, he knew, could climb trees better than any one else in the world. He determined to ask the monkey to help him, and set out to find him.
Cuối cùng, một ngày nọ, chú biết những quả hồng chắc hẳn đã chín hẳn và chú rất muốn nếm thử một quả. Chú thử leo lên cây nhiều lần, hy vọng hão huyền là với tới được một trong những quả hồng xinh đẹp treo phía trên; nhưng lần nào cũng thất bại, vì chân cua không phải để leo cây mà chỉ để chạy trên mặt đất và qua các tảng đá, cả hai việc mà chú có thể làm hết sức khéo léo. Trong tình thế khó xử ấy, chú nghĩ đến người bạn chơi cũ của mình, chú khỉ, người mà chú biết có thể leo cây giỏi hơn bất cứ ai trên đời. Chú quyết định nhờ chú khỉ giúp đỡ, và lên đường đi tìm chú khỉ.
Running crab-fashion up the stony river bank, over the pathways into the shadowy forest, the crab at last found the monkey taking an afternoon nap in his favorite pine-tree, with his tail curled tight around a branch to prevent him from falling off in his dreams. He was soon wide awake, however, when he heard himself called, and eagerly listening to what the crab told him. When he heard that the seed which he had long ago exchanged for a rice-dumpling had grown into a tree and was now bearing good fruit, he was delighted, for he at once devised a cunning plan which would give him all the persimmons for himself.
Chạy theo kiểu cua ngang dọc bờ sông đầy đá, qua các lối mòn vào khu rừng tối, cuối cùng chú cua tìm thấy chú khỉ đang chợp mắt buổi chiều trên cây thông yêu thích của mình, đuôi cuộn chặt quanh một cành cây để không bị rơi xuống trong giấc mơ. Tuy nhiên chú khỉ tỉnh dậy ngay khi nghe có ai gọi mình, và háo hức lắng nghe những gì chú cua kể. Khi nghe rằng hạt giống mà chú đã trao đổi lấy viên bánh nếp từ lâu giờ đã lớn thành cây và đang ra quả tốt, chú vui mừng lắm, vì chú lập tức nghĩ ra một kế hoạch xảo quyệt để chiếm hết những quả hồng cho riêng mình.
He consented to go with the crab to pick the fruit for him. When they both reached the spot, the monkey was astonished to see what a fine tree had sprung from the seed, and with what a number of ripe persimmons the branches were loaded.
Chú đồng ý cùng chú cua đi hái quả giúp chú cua. Khi cả hai đến nơi, chú khỉ ngạc nhiên khi thấy một cây tuyệt đẹp đã mọc lên từ hạt giống, với biết bao quả hồng chín trĩu nặng trên cành.
He quickly climbed the tree and began to pluck and eat, as fast as he could, one persimmon after another. Each time he chose the best and ripest he could find, and went on eating till he could eat no more. Not one would he give to the poor hungry crab waiting below, and when he had finished there was little but the hard, unripe fruit left.
Chú nhanh chóng trèo lên cây và bắt đầu hái ăn, càng nhanh càng tốt, hết quả hồng này đến quả khác. Mỗi lần chú đều chọn quả ngon nhất và chín nhất mà chú tìm thấy, và cứ ăn mãi cho đến khi không thể ăn thêm được nữa. Chú không cho chú cua tội nghiệp đang đói khát chờ bên dưới lấy một quả nào, và khi chú ăn xong thì chỉ còn lại vài quả cứng, chưa chín.
You can imagine the feelings of the poor crab after waiting patiently, for so long as he had done, for the tree to grow and the fruit to ripen, when he saw the monkey devouring all the good persimmons. He was so disappointed that he ran round and round the tree calling to the monkey to remember his promise. The monkey at first took no notice of the crab’s complaints, but at last he picked out the hardest, greenest persimmon he could find and aimed it at the crab’s head.
Các con có thể tưởng tượng được cảm giác của chú cua tội nghiệp sau khi kiên nhẫn chờ đợi lâu như vậy, để cây lớn lên và quả chín, khi thấy chú khỉ ngấu nghiến hết tất cả những quả hồng ngon lành. Chú thất vọng đến mức chạy vòng quanh cây gọi chú khỉ nhớ lại lời hứa. Ban đầu chú khỉ chẳng để ý gì đến lời phàn nàn của chú cua, nhưng cuối cùng chú chọn ra quả hồng cứng nhất, xanh nhất mà chú tìm được và ném thẳng vào đầu chú cua.
The persimmon is as hard as stone when it is unripe. The monkey’s missile struck home and the crab was sorely hurt by the blow. Again and again, as fast as he could pick them, the monkey pulled off the hard persimmons and threw them at the defenseless crab till he dropped dead, covered with wounds all over his body. There he lay a pitiful sight at the foot of the tree he had himself planted.
Quả hồng cứng như đá khi chưa chín. Vật chú khỉ ném trúng đích và chú cua bị thương nặng vì cú đánh đó. Hết lần này đến lần khác, càng nhanh càng tốt, chú khỉ hái những quả hồng cứng và ném vào chú cua không có khả năng tự vệ cho đến khi chú ngã gục chết, toàn thân đầy vết thương. Chú nằm đó, một cảnh tượng thảm thương dưới gốc cây mà chính chú đã trồng.
When the wicked monkey saw that he had killed the crab he ran away from the spot as fast as he could, in fear and trembling, like a coward as he was.
Khi chú khỉ độc ác thấy mình đã giết chú cua, chú vội vàng chạy khỏi nơi đó nhanh hết mức có thể, run sợ, hèn nhát đúng như bản chất của chú.
Now the crab had a son who had been playing with a friend not far from the spot where this sad work had taken place. On the way home he came across his father dead, in a most dreadful condition—his head was smashed and his shell broken in several places, and around his body lay the unripe persimmons which had done their deadly work. At this dreadful sight the poor young crab sat down and wept.
Giờ đây chú cua có một người con trai, khi đó đang chơi với một người bạn không xa nơi xảy ra chuyện đau lòng này. Trên đường về nhà, cậu bắt gặp cha mình đã chết, trong tình trạng vô cùng thảm khốc—đầu bị vỡ và mai bị nứt nhiều chỗ, xung quanh thân xác cha nằm la liệt những quả hồng chưa chín đã gây ra cái chết ấy. Trước cảnh tượng đáng sợ đó, chú cua con tội nghiệp ngồi xuống và khóc.
But when he had wept for some time he told himself that this crying would do no good; it was his duty to avenge his father’s murder, and this he determined to do. He looked about for some clue which would lead him to discover the murderer. Looking up at the tree he noticed that the best fruit had gone, and that all around lay bits of peel and numerous seeds strewn on the ground as well as the unripe persimmons which had evidently been thrown at his father.
Nhưng sau khi khóc một hồi lâu, cậu tự nhủ rằng khóc lóc sẽ chẳng ích gì; bổn phận của cậu là báo thù cho cha mình bị giết hại, và cậu quyết tâm làm điều đó. Cậu nhìn quanh tìm manh mối để tìm ra kẻ giết người. Nhìn lên cây, cậu nhận thấy những quả ngon nhất đã biến mất, và xung quanh la liệt những mảnh vỏ và nhiều hạt vương vãi trên mặt đất cùng với những quả hồng chưa chín rõ ràng đã được ném vào cha cậu.
Then he understood that the monkey was the murderer, for he now remembered that his father had once told him the story of the rice-dumpling and the persimmon-seed. The young crab knew that monkeys liked persimmons above all other fruit, and he felt sure that his greed for the coveted fruit had been the cause of the old crab’s death. Alas!
Rồi cậu hiểu ra rằng chú khỉ chính là kẻ giết người, vì giờ đây cậu nhớ lại rằng cha mình từng kể cho cậu nghe câu chuyện về viên bánh nếp và hạt hồng. Chú cua con biết rằng loài khỉ thích quả hồng hơn tất cả các loại quả khác, và cậu tin chắc rằng lòng tham với thứ quả thèm muốn ấy chính là nguyên nhân gây ra cái chết của cha cậu. Ôi thôi!
He at first thought of going to attack the monkey at once, for he burned with rage. Second thoughts, however, told him that this was useless, for the monkey was an old and cunning animal and would be hard to overcome. He must meet cunning with cunning and ask some of his friends to help him, for he knew it would be quite out of his power to kill him alone.
Ban đầu cậu định lao ngay đến tấn công chú khỉ, vì cậu bừng bừng phẫn nộ. Tuy nhiên, nghĩ lại, cậu nhận ra làm vậy sẽ vô ích, vì chú khỉ là một con thú già dặn và ranh mãnh, khó lòng đánh bại được. Cậu phải lấy mưu kế đối phó với mưu kế và nhờ một số bạn bè giúp đỡ, vì cậu biết mình không đủ sức tự giết chú khỉ một mình.
The young crab set out at once to call on the mortar, his father’s old friend, and told him of all that had happened. He besought the mortar with tears to help him avenge his father’s death. The mortar was very sorry when he heard the woful tale and promised at once to help the young crab punish the monkey to death. He warned him that he must be very careful in what he did, for the monkey was a strong and cunning enemy.
Chú cua con lập tức lên đường đến gặp chày cối, người bạn cũ của cha mình, và kể cho chày cối nghe tất cả những gì đã xảy ra. Cậu van xin chày cối, nước mắt lưng tròng, giúp cậu báo thù cho cái chết của cha mình. Chày cối vô cùng thương xót khi nghe câu chuyện đau lòng ấy và hứa ngay lập tức sẽ giúp chú cua con trừng trị chú khỉ đến chết. Ông cảnh báo cậu phải hết sức cẩn thận trong hành động của mình, vì chú khỉ là kẻ thù mạnh mẽ và ranh mãnh.
The mortar now sent to fetch the bee and the chestnut (also the crab’s old friends) to consult them about the matter. In a short time the bee and the chestnut arrived. When they were told all the details of the old crab’s death and of the monkey’s wickedness and greed, they both gladly consented to help the young crab in his revenge.
Giờ đây chày cối cho gọi ong và hạt dẻ (cũng là những bạn cũ của gia đình cua) đến để bàn bạc về chuyện này. Chẳng bao lâu sau ong và hạt dẻ đã đến. Khi được kể tất cả chi tiết về cái chết của cua già và sự độc ác, tham lam của chú khỉ, cả hai đều vui vẻ đồng ý giúp chú cua con báo thù.
After talking for a long time as to the ways and means of carrying out their plans they separated, and Mr. Mortar went home with the young crab to help him bury his poor father.
Sau khi bàn bạc hồi lâu về cách thức thực hiện kế hoạch của mình, họ chia tay nhau, và ông Chày Cối về nhà cùng chú cua con để giúp cậu chôn cất người cha tội nghiệp.
While all this was taking place the monkey was congratulating himself (as the wicked often do before their punishment comes upon them) on all he had done so neatly. He thought it quite a fine thing that he had robbed his friend of all his ripe persimmons and then that he had killed him. Still, smile as hard as he might, he could not banish altogether the fear of the consequences should his evil deeds be discovered.
Trong khi tất cả những chuyện này đang diễn ra, chú khỉ đang tự chúc mừng bản thân (như những kẻ độc ác thường làm trước khi bị trừng phạt) về mọi việc mình đã làm gọn gàng đến vậy. Chú nghĩ đó là một việc thật khôn khéo khi cướp hết những quả hồng chín của bạn mình rồi giết chết bạn ấy. Tuy vậy, dù cố gắng mỉm cười thế nào, chú vẫn không thể xua tan hoàn toàn nỗi sợ hậu quả nếu hành động xấu xa của mình bị phát hiện.
If he were found out (and he told himself that this could not be for he had escaped unseen) the crab’s family would be sure to bear him hatred and seek to take revenge on him. So he would not go out, and kept himself at home for several days. He found this kind of life, however, extremely dull, accustomed as he was to the free life of the woods, and at last he said:
Nếu bị phát hiện (và chú tự nhủ rằng điều đó không thể xảy ra vì chú đã trốn thoát mà không ai thấy) thì gia đình chú cua chắc chắn sẽ căm ghét chú và tìm cách trả thù. Vì vậy chú không dám ra ngoài, và ở lì trong nhà suốt vài ngày. Tuy nhiên, chú thấy kiểu sống này vô cùng buồn tẻ, vì chú vốn quen với cuộc sống tự do trong rừng, nên cuối cùng chú nói:
“No one knows that it was I who killed the crab! I am sure that the old thing breathed his last before I left him. Dead crabs have no mouths! Who is there to tell that I am the murderer? Since no one knows, what is the use of shutting myself up and brooding over the matter? What is done cannot be undone!”
"Chẳng ai biết chính ta đã giết con cua ấy! Ta chắc chắn là con vật già đó đã tắt thở trước khi ta rời đi. Cua chết thì làm gì có miệng mà nói! Ai mà biết ta là kẻ giết người chứ? Vì chẳng ai biết, việc gì ta phải nhốt mình trong nhà và u sầu về chuyện này? Việc đã làm rồi thì không thể làm lại được nữa!"
With this he wandered out into the crab settlement and crept about as slyly as possible near the crab’s house and tried to hear the neighbors’ gossip round about. He wanted to find out what the crabs were saving about their chief’s death, for the old crab had been the chief of the tribe. But he heard nothing and said to himself:
Nói xong chú lang thang đến khu vực sinh sống của loài cua và len lỏi hết sức lén lút gần nhà chú cua, cố nghe ngóng lời bàn tán của hàng xóm xung quanh. Chú muốn tìm hiểu xem loài cua đang nói gì về cái chết của thủ lĩnh chúng, vì chú cua già từng là thủ lĩnh của bộ tộc. Nhưng chú chẳng nghe thấy gì và tự nhủ:
“They are all such fools that they don’t know and don’t care who murdered their chief!”
"Chúng đều ngu ngốc cả nên chẳng biết cũng chẳng quan tâm ai đã giết thủ lĩnh của chúng!"
Little did he know in his so-called “monkey’s wisdom” that this seeming unconcern was part of the young crab’s plan. He purposely pretended not to know who killed his father, and also to believe that he had met his death through his own fault. By this means he could the better keep secret the revenge on the monkey, which he was meditating.
Chú chẳng hề biết, với cái gọi là "sự khôn ngoan của loài khỉ" của mình, rằng vẻ thờ ơ có vẻ như vậy chính là một phần trong kế hoạch của chú cua con. Cậu cố tình giả vờ không biết ai đã giết cha mình, và cũng giả vờ tin rằng cha mình đã chết vì lỗi của chính mình. Bằng cách đó, cậu có thể giữ bí mật tốt hơn kế hoạch báo thù chú khỉ mà cậu đang ấp ủ.
So the monkey returned home from his walk quite content. He told himself he had nothing now to fear.
Vậy nên chú khỉ trở về nhà sau chuyến dạo chơi, lòng hoàn toàn mãn nguyện. Chú tự nhủ rằng giờ chẳng còn gì phải sợ nữa.
One fine day, when the monkey was sitting at home, he was surprised by the appearance of a messenger from the young crab. While he was wondering what this might mean, the messenger bowed before him and said:
Một ngày đẹp trời nọ, khi chú khỉ đang ngồi ở nhà, chú ngạc nhiên trước sự xuất hiện của một sứ giả từ chú cua con. Trong lúc chú đang thắc mắc chuyện này có nghĩa gì, sứ giả cúi chào trước mặt chú và nói:
“I have been sent by my master to inform you that his father died the other day in falling from a persimmon tree while trying to climb the tree after fruit. This, being the seventh day, is the first anniversary after his death, and my master has prepared a little festival in his father’s honor, and bids you come to participate in it as you were one of his best friends. My master hopes you will honor his house with your kind visit.”
"Tôi được chủ nhân của mình phái đến để báo cho ngài biết rằng cha cậu ấy đã qua đời hôm nọ do ngã từ một cây hồng khi đang cố leo lên cây hái quả. Hôm nay là ngày thứ bảy, cũng là ngày giỗ đầu tiên sau khi ông mất, và chủ nhân tôi đã chuẩn bị một lễ nhỏ để tưởng nhớ cha mình, và mời ngài đến tham dự vì ngài từng là một trong những người bạn tốt nhất của ông ấy. Chủ nhân tôi mong ngài sẽ vinh hạnh ghé thăm nhà cậu ấy."
When the monkey heard these words he rejoiced in his inmost heart, for all his fears of being suspected were now at rest. He could not guess that a plot had just been set in motion against him. He pretended to be very surprised at the news of the crab’s death, and said:
Khi chú khỉ nghe những lời này, chú vui mừng trong thâm tâm, vì mọi nỗi sợ bị nghi ngờ giờ đã tan biến. Chú không thể ngờ rằng một âm mưu vừa được bày ra chống lại mình. Chú giả vờ hết sức ngạc nhiên trước tin chú cua qua đời, và nói:
“I am, indeed, very sorry to hear of your chief’s death. We were great friends as you know. I remember that we once exchanged a rice-dumpling for a persimmon-seed. It grieves me much to think that that seed was in the end the cause of his death. I accept your kind invitation with many thanks. I shall be delighted to do honor to my poor old friend!” And he screwed some false tears from his eyes.
"Ta thật sự rất buồn khi nghe tin thủ lĩnh của các ngươi qua đời. Chúng ta là bạn thân thiết như các ngươi biết đấy. Ta nhớ có lần chúng ta đã đổi một viên bánh nếp lấy một hạt hồng. Ta vô cùng đau lòng khi nghĩ rằng chính hạt giống đó cuối cùng lại là nguyên nhân gây ra cái chết của ông ấy. Ta xin nhận lời mời tử tế của các ngươi với muôn vàn cảm tạ. Ta sẽ rất vui mừng được tỏ lòng tôn kính với người bạn già tội nghiệp của ta!" Và chú nặn ra vài giọt nước mắt giả tạo.
The messenger laughed inwardly and thought, “The wicked monkey is now dropping false tears, but within a short time he shall shed real ones.” But aloud he thanked the monkey politely and went home.
Sứ giả cười thầm trong lòng và nghĩ, "Con khỉ độc ác giờ đang nhỏ những giọt nước mắt giả tạo, nhưng chẳng mấy chốc nó sẽ đổ những giọt nước mắt thật sự." Nhưng ngoài miệng, cậu lịch sự cảm ơn chú khỉ rồi trở về nhà.
When he had gone, the wicked monkey laughed aloud at what he thought was the young crab’s innocence, and without the least feeling began to look forward to the feast to be held that day in honor of the dead crab, to which he had been invited. He changed his dress and set out solemnly to visit the young crab.
Khi sứ giả đã đi rồi, chú khỉ độc ác cười lớn trước điều mà chú nghĩ là sự ngây thơ của chú cua con, và không mảy may xúc động, chú bắt đầu mong đến bữa tiệc sẽ được tổ chức hôm đó để tưởng nhớ chú cua đã mất, mà chú đã được mời. Chú thay bộ quần áo và lên đường trang trọng đi thăm chú cua con.
He found all the members of the crab’s family and his relatives waiting to receive and welcome him. As soon as the bows of meeting were over they led him to a hall. Here the young chief mourner came to receive him. Expressions of condolence and thanks were exchanged between them, and then they all sat down to a luxurious feast and entertained the monkey as the guest of honor.
Chú thấy tất cả các thành viên trong gia đình cua và họ hàng của họ đang chờ đón tiếp và chào mừng chú. Ngay khi những cái cúi chào gặp mặt kết thúc, họ dẫn chú vào một gian phòng. Ở đây, người con trai trưởng để tang ra đón chú. Những lời chia buồn và cảm tạ được trao đổi giữa hai bên, rồi tất cả cùng ngồi xuống dự một bữa tiệc thịnh soạn và tiếp đãi chú khỉ như khách danh dự.
The feast over, he was next invited to the tea-ceremony room to drink a cup of tea. When the young crab had conducted the monkey to the tearoom he left him and retired. Time passed and still he did not return. At last the monkey became impatient. He said to himself:
Bữa tiệc kết thúc, chú được mời tiếp đến phòng trà đạo để uống một chén trà. Khi chú cua con dẫn chú khỉ đến phòng trà, cậu để chú lại đó rồi lui ra. Thời gian trôi qua mà cậu vẫn không quay lại. Cuối cùng chú khỉ trở nên mất kiên nhẫn. Chú tự nhủ:
“This tea ceremony is always a very slow affair. I am tired of waiting so long. I am very thirsty after drinking so much sake at the dinner!”
"Nghi lễ trà đạo này lúc nào cũng chậm rề rề. Ta chán chờ đợi lâu như vậy lắm rồi. Ta khát nước quá sau khi uống nhiều rượu sake trong bữa tối!"
He then approached the charcoal fire-place and began to pour out some hot water from the kettle boiling there, when something burst out from the ashes with a great pop and hit the monkey right in the neck. It was the chestnut, one of the crab’s friends, who had hidden himself in the fireplace. The monkey, taken by surprise, jumped backward, and then started to run out of the room.
Rồi chú tiến đến bếp than và bắt đầu rót ra chút nước nóng từ ấm đang sôi ở đó, thì bỗng có thứ gì đó bật ra từ đống tro với một tiếng nổ lớn và đập trúng cổ chú khỉ. Đó là hạt dẻ, một trong những người bạn của chú cua, đã ẩn mình trong bếp lửa. Chú khỉ, bị bất ngờ, nhảy lùi lại, rồi bắt đầu chạy ra khỏi phòng.
The bee, who was hiding outside the screens, now flew out and stung him on the cheek. The monkey was in great pain, his neck was burned by the chestnut and his face badly stung by the bee, but he ran on screaming and chattering with rage.
Con ong, đang trốn bên ngoài tấm bình phong, giờ bay ra và chích vào má chú. Chú khỉ đau đớn vô cùng, cổ chú bị hạt dẻ làm bỏng và mặt chú bị ong chích nặng, nhưng chú vẫn chạy tiếp, vừa hét vừa lảm nhảm trong cơn giận dữ.
Now the stone mortar had hidden himself with several other stones on the top of the crab’s gate, and as the monkey ran underneath, the mortar and all fell down on the top of the monkey’s head. Was it possible for the monkey to bear the weight of the mortar falling on him from the top of the gate? He lay crushed and in great pain, quite unable to get up. As he lay there helpless the young crab came up, and, holding his great claw scissors over the monkey, he said:
Giờ đây chày đá đã ẩn mình cùng vài viên đá khác trên đỉnh cổng nhà chú cua, và khi chú khỉ chạy ngang qua bên dưới, chày cối cùng tất cả các viên đá đều rơi xuống ngay đầu chú khỉ. Liệu chú khỉ có thể chịu nổi sức nặng của chày cối rơi xuống người mình từ đỉnh cổng không? Chú nằm bẹp dí, đau đớn vô cùng, hoàn toàn không thể đứng dậy được. Khi chú nằm đó bất lực, chú cua con tiến đến, và, giơ càng kéo lớn của mình lên trên chú khỉ, cậu nói:
“Do you now remember that you murdered my father?”
"Giờ ngươi có nhớ ngươi đã giết cha ta không?"
“Then you—are—my—enemy?” gasped the monkey brokenly.
"Vậy—ngươi—là—kẻ thù—của ta?" chú khỉ hổn hển, đứt quãng.
“Of course,” said the young crab.
"Tất nhiên rồi," chú cua con nói.
“It—was—your—father’s—fault—not—mine!” gasped the unrepentant monkey.
"Đó—là—lỗi—của—cha ngươi—không phải—của ta!" chú khỉ hổn hển, vẫn không chịu ăn năn.
“Can you still lie? I will soon put an end to your breath!” and with that he cut off the monkey’s head with his pitcher claws. Thus the wicked monkey met his well-merited punishment, and the young crab avenged his father’s death.
"Ngươi vẫn còn dám nói dối sao? Ta sẽ chấm dứt hơi thở của ngươi ngay bây giờ!" và nói xong cậu chặt đứt đầu chú khỉ bằng đôi càng như gọng kìm của mình. Thế là chú khỉ độc ác đã nhận lấy hình phạt xứng đáng, và chú cua con đã báo thù được cho cái chết của cha mình.
This is the end of the story of the monkey, the crab, and the persimmon-seed.
Đây là kết thúc câu chuyện về chú khỉ, chú cua, và hạt hồng.