Storyteller

Vanity and Some Sables

A free C1-level English story for language learners, readable online in 7 languages, with an option to listen via the free Storyteller app.

Level
C1
Genres
literary, romance, humor
Reading time
12 min
Languages available
EN, VI, ES, ZH, PT, HI, ID
Vanity and Some Sables cover

A reformed gang member showers his girl with a lavish gift to prove he's gone straight — but a detective's questions threaten to expose more than one kind of bluff.

When “Kid” Brady was sent to the ropes by Molly McKeever’s blue-black eyes he withdrew from the Stovepipe Gang. So much for the power of a colleen’s blanderin’ tongue and stubborn true-heartedness. If you are a man who read this, may such an influence be sent you before 2 o’clock to-morrow; if you are a woman, may your Pomeranian greet you this morning with a cold nose—a sign of doghealth and your happiness.

Khi đôi mắt xanh đen của Molly McKeever hạ gục "Kid" Brady, anh rút khỏi Băng Ống Khói. Đó là sức mạnh của cái lưỡi dẻo quẹo và tấm lòng chân thật cứng đầu của một cô gái. Nếu bạn là đàn ông đọc những dòng này, mong một ảnh hưởng như thế đến với bạn trước hai giờ ngày mai; nếu bạn là phụ nữ, mong con chó Pomeranian của bạn chào bạn sáng nay bằng cái mũi lạnh—dấu hiệu của một chú chó khỏe mạnh và hạnh phúc của bạn.

The Stovepipe Gang borrowed its name from a sub-district of the city called the “Stovepipe,” which is a narrow and natural extension of the familiar district known as “Hell’s Kitchen.” The “Stovepipe” strip of town runs along Eleventh and Twelfth avenues on the river, and bends a hard and sooty elbow around little, lost homeless DeWitt Clinton park. Consider that a stovepipe is an important factor in any kitchen and the situation is analyzed. The chefs in “Hell’s Kitchen” are many, and the “Stovepipe” gang, wears the cordon blue.

Băng Ống Khói mượn cái tên từ một khu phố nhỏ trong thành phố gọi là "Ống Khói," phần kéo dài tự nhiên và hẹp của khu phố quen thuộc mang tên "Nhà Bếp Địa Ngục." Dải "Ống Khói" của thành phố chạy dọc theo đại lộ Mười Một và Mười Hai bên bờ sông, rồi bẻ một khuỷu tay cứng và ám khói quanh công viên DeWitt Clinton nhỏ bé, bơ vơ. Hãy nghĩ mà xem, ống khói là thứ quan trọng trong bất cứ nhà bếp nào, thế là mọi chuyện rõ ràng. Đầu bếp ở "Nhà Bếp Địa Ngục" thì nhiều, còn băng "Ống Khói" thì đeo dải huân chương bếp trưởng.

The members of this unchartered but widely known brotherhood appeared to pass their time on street corners arrayed like the lilies of the conservatory and busy with nail files and penknives. Thus displayed as a guarantee of good faith, they carried on an innocuous conversation in a 200-word vocabulary, to the casual observer as innocent and immaterial as that heard in clubs seven blocks to the east.

Các thành viên của hội huynh đệ không giấy phép nhưng ai cũng biết tiếng này có vẻ như suốt ngày chỉ đứng góc phố, ăn mặc như hoa huệ trong nhà kính, bận rộn với dũa móng tay và dao bỏ túi. Phô bày như thế để chứng tỏ thiện chí, họ trò chuyện vô hại với vốn từ vựng hai trăm chữ, mà với người ngoài nhìn vào thì cũng vô tội và chẳng có gì đáng để tâm như thứ nghe được trong các câu lạc bộ cách đó bảy dãy phố về phía đông.

But off exhibition the “Stovepipes” were not mere street corner ornaments addicted to posing and manicuring. Their serious occupation was the separating of citizens from their coin and valuables. Preferably this was done by weird and singular tricks without noise or bloodshed; but whenever the citizen honored by their attentions refused to impoverish himself gracefully his objections came to be spread finally upon some police station blotter or hospital register.

Nhưng khi không phô diễn, đám "Ống Khói" chẳng phải chỉ là những món trang trí góc phố ham dáng vẻ và chăm chút móng tay. Công việc nghiêm túc của họ là tách rời công dân khỏi tiền bạc và của cải quý giá. Việc này thường được thực hiện bằng những mánh khóe kỳ lạ, độc đáo, không gây ồn ào hay đổ máu; nhưng hễ công dân nào được họ "chiếu cố" mà từ chối tự nguyện làm nghèo mình một cách lịch sự, thì lời phản đối của người đó rốt cuộc sẽ được ghi vào sổ trực đồn cảnh sát hay sổ nhập viện.

The police held the “Stovepipe” gang in perpetual suspicion and respect. As the nightingale’s liquid note is heard in the deepest shadows, so along the “Stovepipe’s” dark and narrow confines the whistle for reserves punctures the dull ear of night. Whenever there was smoke in the “stovepipe” the tasselled men in blue knew there was fire in “Hell’s Kitchen.”

Cảnh sát luôn nghi ngờ và nể sợ băng "Ống Khói." Như tiếng hót trong trẻo của chim họa mi vang lên giữa bóng tối sâu thẳm, thì dọc theo những con hẻm tối tăm, chật hẹp của "Ống Khói," tiếng còi gọi viện binh cũng xuyên thủng lỗ tai buồn tẻ của đêm. Bất cứ khi nào có khói trong "ống khói," đám cảnh sát tua rua xanh đều biết có lửa trong "Nhà Bếp Địa Ngục."

“Kid” Brady promised Molly to be good. “Kid” was the vainest, the strongest, the wariest and the most successful plotter in the gang. Therefore, the boys were sorry to give him up.

"Kid" Brady hứa với Molly sẽ ngoan. "Kid" là kẻ kiêu ngạo nhất, khỏe nhất, khôn khéo nhất và là tay bày mưu thành công nhất trong băng. Vì vậy, đám bạn tiếc nuối khi phải để anh đi.

But they witnessed his fall to a virtuous life without protest. For, in the Kitchen it is considered neither unmanly nor improper for a guy to do as his girl advises.

Nhưng họ chứng kiến anh sa vào đời sống đạo đức mà không phản đối gì. Bởi vì, ở Nhà Bếp, chẳng ai coi là không ra dáng đàn ông hay bất ổn khi một gã nghe lời khuyên của bạn gái mình.

Black her eye for love’s sake, if you will; but it is all-to-the-good business to do a thing when she wants you to do it.

Cứ đánh bầm mắt cô ấy vì tình yêu nếu muốn; nhưng làm điều gì đó khi cô ấy muốn bạn làm thì luôn luôn là việc tốt.

“Turn off the hydrant,” said the Kid, one night when Molly, tearful, besought him to amend his ways. “I’m going to cut out the gang. You for mine, and the simple life on the side. I’ll tell you, Moll—I’ll get work; and in a year we’ll get married. I’ll do it for you. We’ll get a flat and a flute, and a sewing machine and a rubber plant and live as honest as we can.”

"Khóa vòi nước lại đi," Kid nói, một đêm nọ khi Molly, rơm rớm nước mắt, năn nỉ anh sửa đổi lối sống. "Anh sẽ bỏ băng này. Em là của anh, còn cuộc sống giản dị thì để riêng. Anh nói cho em nghe, Moll—anh sẽ đi làm; và trong một năm chúng ta sẽ cưới nhau. Anh làm vậy vì em. Chúng ta sẽ có một căn hộ và một cây sáo, một máy khâu và một chậu cây cao su, sống lương thiện hết mức có thể."

“Oh, Kid,” sighed Molly, wiping the powder off his shoulder with her handkerchief, “I’d rather hear you say that than to own all of New York. And we can be happy on so little!”

"Ôi, Kid," Molly thở dài, lau phấn trên vai anh bằng chiếc khăn tay, "em thà nghe anh nói vậy còn hơn có cả New York. Và chúng ta có thể hạnh phúc với chỉ chút ít thôi mà!"

The Kid looked down at his speckless cuffs and shining patent leathers with a suspicion of melancholy.

Kid nhìn xuống đôi cổ tay áo không một vết bẩn và đôi giày da bóng loáng của mình với chút gì đó gần như u sầu.

“It’ll hurt hardest in the rags department,” said he. “I’ve kind of always liked to rig out swell when I could. You know how I hate cheap things, Moll. This suit set me back sixty-five. Anything in the wearing apparel line has got to be just so, or it’s to the misfit parlors for it, for mine. If I work I won’t have so much coin to hand over to the little man with the big shears.”

"Cái khó nhất sẽ là chuyện quần áo," anh nói. "Anh vốn luôn thích ăn mặc bảnh bao khi có thể. Em biết anh ghét đồ rẻ tiền thế nào rồi, Moll. Bộ đồ này tốn của anh sáu mươi lăm đồng. Bất cứ thứ gì thuộc khoản trang phục đều phải đúng chuẩn, không thì đem tới tiệm sửa đồ cho rồi, với anh là vậy. Nếu anh đi làm thì sẽ không còn nhiều tiền để đưa cho ông thợ may với cây kéo to."

“Never mind, Kid. I’ll like you just as much in a blue jumper as I would in a red automobile.”

"Đừng lo, Kid. Em sẽ thích anh y như vậy dù anh mặc áo liền quần xanh công nhân hay ngồi trên xe hơi đỏ."

Before the Kid had grown large enough to knock out his father he had been compelled to learn the plumber’s art. So now back to this honorable and useful profession he returned. But it was as an assistant that he engaged himself; and it is the master plumber and not the assistant, who wears diamonds as large as hailstones and looks contemptuously upon the marble colonnades of Senator Clark’s mansion.

Trước khi Kid lớn đủ để đánh gục cha mình, anh đã buộc phải học nghề thợ ống nước. Vậy nên giờ anh quay lại với nghề danh giá và hữu ích này. Nhưng anh chỉ nhận làm phụ tá; và chính người thợ chính chứ không phải phụ tá mới là kẻ đeo kim cương to như cục mưa đá và nhìn hàng cột đá cẩm thạch của dinh thự Thượng nghị sĩ Clark bằng ánh mắt khinh khỉnh.

Eight months went by as smoothly and surely as though they had “elapsed” on a theater program. The Kid worked away at his pipes and solder with no symptoms of backsliding. The Stovepipe gang continued its piracy on the high avenues, cracked policemen’s heads, held up late travelers, invented new methods of peaceful plundering, copied Fifth avenue’s cut of clothes and neckwear fancies and comported itself according to its lawless bylaws. But the Kid stood firm and faithful to his Molly, even though the polish was gone from his fingernails and it took him 15 minutes to tie his purple silk ascot so that the worn places would not show.

Tám tháng trôi qua êm đềm và chắc chắn như thể chúng đã "trôi qua" trên tờ chương trình sân khấu. Kid cần mẫn với ống nước và que hàn, không hề có dấu hiệu quay lại đường cũ. Băng Ống Khói vẫn tiếp tục cướp bóc trên các đại lộ lớn, đập đầu cảnh sát, chặn đường khách bộ hành về khuya, sáng chế thêm những cách cướp bóc êm ả mới, sao chép kiểu quần áo và cà vạt thời thượng của Đại lộ Số Năm và hành xử theo đúng luật lệ ngoài vòng pháp luật của mình. Nhưng Kid vẫn kiên định và trung thành với Molly của mình, dù lớp bóng trên móng tay anh đã mất và phải mất mười lăm phút anh mới thắt được chiếc cà vạt lụa tím sao cho không lộ ra những chỗ đã sờn.

One evening he brought a mysterious bundle with him to Molly’s house.

Một tối nọ anh mang theo một bọc gói bí ẩn đến nhà Molly.

“Open that, Moll!” he said in his large, quiet way. “It’s for you.”

"Mở ra đi, Moll!" anh nói với vẻ ung dung, lớn lao thường thấy. "Của em đó."

Molly’s eager fingers tore off the wrappings. She shrieked aloud, and in rushed a sprinkling of little McKeevers, and Ma McKeever, dishwashy, but an undeniable relative of the late Mrs. Eve.

Những ngón tay háo hức của Molly xé toạc lớp giấy gói. Cô hét lên, và cả đám nhóc McKeever lần lượt ùa vào, cùng bà McKeever, tay còn ướt nước rửa chén, nhưng vẫn không thể chối cãi là hậu duệ của bà Eva ngày xưa.

Again Molly shrieked, and something dark and long and sinuous flew and enveloped her neck like an anaconda.

Molly lại hét lên, và có gì đó tối màu, dài và uốn lượn bay tới quấn quanh cổ cô như một con trăn.

“Russian sables,” said the Kid, pridefully, enjoying the sight of Molly’s round cheek against the clinging fur. “The real thing. They don’t grow anything in Russia too good for you, Moll.”

"Chồn sable Nga đấy," Kid nói, đầy tự hào, ngắm nhìn gò má tròn trịa của Molly áp vào lớp lông mềm mại. "Hàng thật đấy. Ở Nga chẳng có gì tốt quá cho em cả, Moll."

Molly plunged her hands into the muff, overturned a row of the family infants and flew to the mirror. Hint for the beauty column. To make bright eyes, rosy cheeks and a bewitching smile: Recipe—one set Russian sables. Apply.

Molly thọc tay vào bao tay lông, làm lật nhào cả một hàng trẻ nhỏ trong nhà và lao đến gương. Một gợi ý cho mục làm đẹp. Muốn có đôi mắt sáng, đôi má hồng và nụ cười mê hoặc: Công thức—một bộ chồn sable Nga. Dùng thử.

When they were alone Molly became aware of a small cake of the ice of common sense floating down the full tide of her happiness.

Khi chỉ còn hai người, Molly cảm nhận một mẩu băng lý trí nhỏ bé trôi theo dòng thủy triều hạnh phúc đang dâng đầy trong lòng cô.

“You’re a bird, all right, Kid,” she admitted gratefully. “I never had any furs on before in my life. But ain’t Russian sables awful expensive? Seems to me I’ve heard they were.”

"Anh giỏi thật đấy, Kid," cô thừa nhận đầy biết ơn. "Em chưa từng có áo lông nào trong đời. Nhưng chồn sable Nga đắt lắm phải không? Hình như em từng nghe vậy."

“Have I ever chucked any bargain-sale stuff at you, Moll?” asked the Kid, with calm dignity. “Did you ever notice me leaning on the remnant counter or peering in the window of the five-and-ten? Call that scarf $250 and the muff $175 and you won’t make any mistake about the price of Russian sables. The swell goods for me. Say, they look fine on you, Moll.”

"Anh từng ném cho em đồ hạ giá bao giờ chưa?" Kid hỏi, với vẻ bình thản, đầy phẩm giá. "Em có từng thấy anh dựa vào quầy hàng tồn kho hay ngó nghiêng qua cửa sổ tiệm năm-xu-mười-xu chưa? Cứ tính chiếc khăn quàng đó giá 250 đồng và bao tay 175 đồng thì em sẽ không nhầm về giá chồn sable Nga đâu. Hàng xịn mới hợp với anh. Này, chúng hợp với em lắm, Moll."

Molly hugged the sables to her bosom in rapture. And then her smile went away little by little, and she looked the Kid straight in the eye sadly and steadily.

Molly ôm chặt bộ lông vào ngực trong niềm sung sướng. Rồi nụ cười của cô dần tắt, cô nhìn thẳng vào mắt Kid, buồn bã và chăm chú.

He knew what every look of hers meant; and he laughed with a faint flush upon his face.

Anh biết mỗi ánh nhìn của cô có nghĩa là gì; và anh cười, khuôn mặt hơi ửng đỏ.

“Cut it out,” he said, with affectionate roughness. “I told you I was done with that. I bought ’em and paid for ’em, all right, with my own money.”

"Thôi đi," anh nói, với vẻ thô lỗ đầy trìu mến. "Anh đã nói với em là anh bỏ hết chuyện đó rồi mà. Anh mua chúng, trả tiền đàng hoàng, bằng tiền của chính anh."

“Out of the money you worked for, Kid? Out of $75 a month?”

"Từ tiền anh làm ra à, Kid? Từ bảy mươi lăm đồng một tháng?"

“Sure. I been saving up.”

"Đúng vậy. Anh có để dành."

“Let’s see—saved $425 in eight months, Kid?”

"Để xem nào—để dành được bốn trăm hai mươi lăm đồng trong tám tháng, Kid?"

“Ah, let up,” said the Kid, with some heat. “I had some money when I went to work. Do you think I’ve been holding ’em up again? I told you I’d quit. They’re paid for on the square. Put ’em on and come out for a walk.”

"Ôi, thôi đi," Kid nói, hơi bực. "Anh có ít tiền từ trước khi đi làm rồi. Em nghĩ anh lại đi cướp bóc nữa à? Anh đã nói là anh bỏ rồi. Chúng được trả tiền đàng hoàng. Mặc vào rồi ra ngoài dạo với anh đi."

Molly calmed her doubts. Sables are soothing. Proud as a queen she went forth in the streets at the Kid’s side. In all that region of low-lying streets Russian sables had never been seen before. The word sped, and doors and windows blossomed with heads eager to see the swell furs Kid Brady had given his girl. All down the street there were “Oh’s” and “Ah’s” and the reported fabulous sum paid for the sables was passed from lip to lip, increasing as it went.

Molly gạt bỏ nghi ngờ. Chồn sable có sức xoa dịu lòng người thật. Kiêu hãnh như một nữ hoàng, cô bước ra phố bên cạnh Kid. Trong cả khu phố thấp bé đó, chưa từng ai thấy chồn sable Nga bao giờ. Tin lan nhanh, cửa sổ và cửa ra vào nở rộ những cái đầu háo hức muốn xem bộ lông sang trọng mà Kid Brady tặng cho bạn gái. Suốt dọc con phố vang lên những tiếng "Ồ" và "À," và con số khổng lồ được đồn đại về giá bộ lông truyền từ miệng người này sang miệng người khác, mỗi lần một tăng thêm.

At her right elbow sauntered the Kid with the air of princes. Work had not diminished his love of pomp and show and his passion for the costly and genuine. On a corner they saw a group of the Stovepipe Gang loafing, immaculate. They raised their hats to the Kid’s girl and went on with their calm, unaccented palaver.

Bên khuỷu tay phải của cô, Kid sải bước với dáng vẻ của một hoàng tử. Công việc chẳng làm giảm đi tình yêu của anh với sự phô trương, xa hoa và niềm say mê với những thứ đắt tiền, chính hãng. Ở một góc phố, họ thấy một nhóm Băng Ống Khói đang tụ tập, ăn mặc chỉn chu. Họ ngả mũ chào bạn gái của Kid rồi tiếp tục câu chuyện phiếm bình thản, không nhấn nhá của mình.

Three blocks behind the admired couple strolled Detective Ransom, of the Central office. Ransom was the only detective on the force who could walk abroad with safety in the Stovepipe district. He was fair dealing and unafraid and went there with the hypothesis that the inhabitants were human. Many liked him, and now and then one would tip off to him something that he was looking for.

Ba dãy phố phía sau cặp đôi đang được ngưỡng mộ, thám tử Ransom của Sở Cảnh Sát Trung Tâm rảo bước theo dõi. Ransom là thám tử duy nhất trong lực lượng có thể đi lại an toàn trong khu Ống Khói. Anh công bằng, không sợ hãi và đến đó với giả định rằng cư dân ở đây cũng là con người. Nhiều người quý anh, và thỉnh thoảng có người mách cho anh biết điều anh đang tìm kiếm.

“What’s the excitement down the street?” asked Ransom of a pale youth in a red sweater.

"Có chuyện gì náo động dưới phố vậy?" Ransom hỏi một gã thanh niên xanh xao mặc áo len đỏ.

“Dey’re out rubberin’ at a set of buffalo robes Kid Brady staked his girl to,” answered the youth. “Some say he paid $900 for de skins. Dey’re swell all right enough.”

"Họ đang xúm vào ngó bộ da trâu mà Kid Brady tặng cho bạn gái," gã thanh niên đáp. "Có người bảo anh ta trả chín trăm đồng cho bộ da đó. Đúng là sang thật."

“I hear Brady has been working at his old trade for nearly a year,” said the detective. “He doesn’t travel with the gang any more, does he?”

"Tôi nghe nói Brady đã làm nghề cũ của anh ta gần một năm nay rồi," thám tử nói. "Anh ta không còn đi theo băng nữa phải không?"

“He’s workin’, all right,” said the red sweater, “but—say, sport, are you trailin’ anything in the fur line? A job in a plumbin’ shop don’ match wid dem skins de Kid’s girl’s got on.”

"Anh ta đi làm thật đấy," gã áo len đỏ nói, "nhưng—này, ông bạn, ông đang lần theo chuyện gì về lông thú hả? Một chân làm ở tiệm ống nước thì không xứng với bộ da mà bạn gái Kid đang mặc đâu."

Ransom overtook the strolling couple on an empty street near the river bank. He touched the Kid’s arm from behind.

Ransom bắt kịp cặp đôi đang dạo bước trên một con phố vắng gần bờ sông. Anh chạm vào cánh tay Kid từ phía sau.

“Let me see you a moment, Brady,” he said, quietly. His eye rested for a second on the long fur scarf thrown stylishly back over Molly’s left shoulder. The Kid, with his old-time police hating frown on his face, stepped a yard or two aside with the detective.

"Cho tôi nói chuyện một lát, Brady," anh nói, nhỏ nhẹ. Ánh mắt anh dừng lại một giây trên chiếc khăn lông dài được hất ra sau vai trái của Molly một cách thời thượng. Kid, với vẻ mặt cau có ghét cảnh sát từ xưa đến giờ, bước sang một bên vài bước cùng viên thám tử.

“Did you go to Mrs. Hethcote’s on West 7—th street yesterday to fix a leaky water pipe?” asked Ransom.

"Anh có đến nhà bà Hethcote trên phố 7 Tây hôm qua để sửa đường ống nước bị rò không?" Ransom hỏi.

“I did,” said the Kid. “What of it?”

"Có," Kid nói. "Thì sao?"

“The lady’s $1,000 set of Russian sables went out of the house about the same time you did. The description fits the ones this lady has on.”

"Bộ chồn sable Nga trị giá một nghìn đồng của quý bà đó biến mất khỏi nhà cùng lúc anh rời đi. Miêu tả khớp với bộ mà quý cô này đang mặc."

“To h—Harlem with you,” cried the Kid, angrily. “You know I’ve cut out that sort of thing, Ransom. I bought them sables yesterday at—”

"Xéo đi cho—" Kid hét lên giận dữ. "Anh biết tôi đã bỏ chuyện đó rồi mà, Ransom. Tôi mua bộ lông đó hôm qua ở—"

The Kid stopped short.

Kid dừng bặt lại.

“I know you’ve been working straight lately,” said Ransom. “I’ll give you every chance. I’ll go with you where you say you bought the furs and investigate. The lady can wear ’em along with us and nobody’ll be on. That’s fair, Brady.”

"Tôi biết anh đã làm ăn đàng hoàng gần đây," Ransom nói. "Tôi sẽ cho anh mọi cơ hội. Tôi sẽ đi cùng anh đến nơi anh nói đã mua bộ lông và điều tra. Quý cô có thể mặc chúng cùng chúng ta và sẽ không ai để ý. Vậy là công bằng rồi, Brady."

“Come on,” agreed the Kid, hotly. And then he stopped suddenly in his tracks and looked with an odd smile at Molly’s distressed and anxious face.

"Đi thôi," Kid đồng ý, nóng nảy. Rồi anh đột nhiên dừng bước và nhìn khuôn mặt lo lắng, đau khổ của Molly với một nụ cười kỳ lạ.

“No use,” he said, grimly. “They’re the Hethcote sables, all right. You’ll have to turn ’em over, Moll, but they ain’t too good for you if they cost a million.”

"Vô ích thôi," anh nói, cứng rắn. "Đúng là bộ lông của bà Hethcote rồi. Em phải trả lại thôi, Moll, nhưng chúng chẳng phải quá tốt cho em đâu dù có đáng cả triệu đồng."

Molly, with anguish in her face, hung upon the Kid’s arm.

Molly, gương mặt đầy đau khổ, bám chặt lấy cánh tay Kid.

“Oh, Kiddy, you’ve broke my heart,” she said. “I was so proud of you—and now they’ll do you—and where’s our happiness gone?”

"Ôi, Kid, anh làm em đau lòng quá," cô nói. "Em từng tự hào về anh biết bao—giờ họ sẽ bắt anh—và hạnh phúc của chúng ta đi đâu mất rồi?"

“Go home,” said the Kid, wildly. “Come on, Ransom—take the furs. Let’s get away from here. Wait a minute—I’ve a good mind to—no, I’ll be d–––– if I can do it—run along, Moll—I’m ready, Ransom.”

"Về nhà đi," Kid nói, có vẻ điên cuồng. "Đi thôi, Ransom—lấy bộ lông đi. Ra khỏi đây thôi. Khoan đã—anh cũng nghĩ đến chuyện—không, thôi cứ để anh chết tiệt nếu anh làm được điều đó—về đi, Moll—tôi sẵn sàng rồi, Ransom."

Around the corner of a lumber-yard came Policeman Kohen on his way to his beat along the river. The detective signed to him for assistance. Kohen joined the group. Ransom explained.

Từ góc một bãi gỗ, cảnh sát Kohen đi tới, trên đường tuần tra dọc bờ sông. Viên thám tử ra hiệu nhờ anh giúp đỡ. Kohen nhập bọn. Ransom giải thích sự việc.

“Sure,” said Kohen. “I hear about those saples dat vas stole. You say you have dem here?”

"Được rồi," Kohen nói. "Tôi có nghe về mấy con sable bị mất trộm đó. Anh nói anh có chúng ở đây à?"

Policeman Kohen took the end of Molly’s late scarf in his hands and looked at it closely.

Cảnh sát Kohen cầm lấy đầu chiếc khăn lông của Molly lúc này và nhìn kỹ.

“Once,” he said, “I sold furs in Sixth avenue. Yes, dese are saples. Dey come from Alaska. Dis scarf is vort $12 and dis muff—”

"Ngày xưa," anh nói, "tôi từng bán lông thú ở Đại lộ Sáu. Đúng, đây là sable đấy. Chúng đến từ Alaska. Cái khăn này đáng giá mười hai đồng, còn cái bao tay này—"

“Biff!” came the palm of the Kid’s powerful hand upon the policeman’s mouth. Kohen staggered and rallied. Molly screamed. The detective threw himself upon Brady and with Kohen’s aid got the nippers on his wrist.

"Bốp!" bàn tay to khỏe của Kid giáng thẳng vào miệng viên cảnh sát. Kohen loạng choạng rồi lấy lại thăng bằng. Molly hét lên. Viên thám tử lao vào Brady và cùng Kohen còng tay anh lại.

“The scarf is vort $12 and the muff is vort $9,” persisted the policeman. “Vot is dis talk about $1,000 saples?”

"Cái khăn đáng giá mười hai đồng và cái bao tay đáng giá chín đồng," viên cảnh sát vẫn khăng khăng. "Sao lại có chuyện một nghìn đồng chồn sable ở đây?"

The Kid sat upon a pile of lumber and his face turned dark red.

Kid ngồi bệt xuống đống gỗ, mặt đỏ bừng.

“Correct, Solomonski!” he declared, viciously. “I paid $21.50 for the set. I’d rather have got six months and not have told it. Me, the swell guy that wouldn’t look at anything cheap! I’m a plain bluffer. Moll—my salary couldn’t spell sables in Russian.”

"Đúng thế, Solomonski!" anh tuyên bố, cay đắng. "Tôi trả hai mươi mốt đồng rưỡi cho cả bộ. Thà tôi bị sáu tháng tù còn hơn phải thú nhận điều này. Tôi, cái thằng sang chảnh không thèm nhìn thứ gì rẻ tiền! Tôi chỉ là một kẻ khoác lác thôi. Moll—lương của anh còn chẳng đủ đánh vần được chữ sable tiếng Nga."

Molly cast herself upon his neck.

Molly ôm chầm lấy cổ anh.

“What do I care for all the sables and money in the world,” she cried. “It’s my Kiddy I want. Oh, you dear, stuck-up, crazy blockhead!”

"Em quan tâm gì đến chồn sable với tiền bạc trên đời này," cô kêu lên. "Em chỉ muốn Kid của em thôi. Ôi, anh chàng ngốc nghếch, sĩ diện, đáng yêu của em!"

“You can take dose nippers off,” said Kohen to the detective. “Before I leaf de station de report come in dat de lady vind her saples—hanging in her wardrobe. Young man, I excuse you dat punch in my vace—dis von time.”

"Anh có thể tháo còng ra được rồi," Kohen nói với viên thám tử. "Trước khi tôi rời đồn thì có báo cáo về chuyện quý bà đã tìm thấy bộ sable của mình—treo trong tủ áo. Chàng trai trẻ, tôi bỏ qua cú đấm vào mặt tôi—lần này thôi đấy."

Ransom handed Molly her furs. Her eyes were smiling upon the Kid. She wound the scarf and threw the end over her left shoulder with a duchess’ grace.

Ransom trao lại bộ lông cho Molly. Ánh mắt cô mỉm cười nhìn Kid. Cô quấn chiếc khăn lại và hất đầu khăn qua vai trái với vẻ duyên dáng của một nữ công tước.

“A gouple of young vools,” said Policeman Kohen to Ransom; “come on away.”

"Một cặp trẻ ngốc nghếch," cảnh sát Kohen nói với Ransom; "đi thôi nào."

Open in the Storyteller app Get it on Google Play