The Bell-Deep
A free C1-level English story for language learners, readable online in 7 languages, with an option to listen via the free Storyteller app.
In the depths of the Odense-Au a sunken church bell talks each night with the river's water-spirit, retelling the town's darkest secrets — a monk's forbidden love, a buried nun, and the murder of a king.
"Ding-dong! ding-dong!" It sounds up from the "bell-deep" in the Odense-Au. Every child in the old town of Odense, on the island of Funen, knows the Au, which washes the gardens round about the town, and flows on under the wooden bridges from the dam to the water-mill.
"Boong! boong!" Âm thanh ấy vang lên từ "vực chuông" trong dòng Odense-Au. Mọi đứa trẻ ở thị trấn cổ Odense, trên đảo Funen, đều biết dòng Au, con sông chảy quanh những khu vườn của thị trấn, và trôi dưới những cây cầu gỗ từ con đập tới cối xay nước.
In the Au grow the yellow water-lilies and brown feathery reeds; the dark velvety flag grows there, high and thick; old and decayed willows, slanting and tottering, hang far out over the stream beside the monk's meadow and by the bleaching ground; but opposite there are gardens upon gardens, each different from the rest, some with pretty flowers and bowers like little dolls' pleasure grounds, often displaying cabbage and other kitchen plants; and here and there the gardens cannot be seen at all, for the great elder trees that spread themselves out by the bank, and hang far out over the streaming waters, which are deeper here and there than an oar can fathom.
Trên dòng Au mọc lên những đóa súng vàng và những khóm sậy lông chim màu nâu; cây thạch xương bồ sẫm màu như nhung mọc ở đó, cao và rậm rạp; những cây liễu già cỗi, nghiêng ngả chực đổ, vươn xa ra trên dòng nước bên cạnh cánh đồng của các thầy tu và bãi tẩy vải; nhưng phía đối diện là hết khu vườn này đến khu vườn khác, mỗi khu một vẻ khác nhau, có khu với hoa xinh và giàn hoa như những khu vui chơi búp bê nho nhỏ, thường trồng bắp cải và các loại rau khác; và có những chỗ khu vườn hoàn toàn không thể nhìn thấy được, vì những cây cơm cháy lớn tỏa cành ra bên bờ, vươn xa trên dòng nước chảy xiết, nơi có chỗ sâu hơn cả một mái chèo có thể dò tới.
Opposite the old nunnery is the deepest place, which is called the "bell-deep," and there dwells the old water spirit, the "Au-mann." This spirit sleeps through the day while the sun shines down upon the water; but in starry and moonlit nights he shows himself. He is very old.
Đối diện tu viện cổ là nơi sâu nhất, được gọi là "vực chuông", và nơi đó có vị thần nước già, "Au-mann", cư ngụ. Vị thần này ngủ suốt ban ngày trong khi mặt trời chiếu xuống mặt nước; nhưng vào những đêm đầy sao và trăng sáng thì ông hiện ra. Ông đã rất già.
Grandmother says that she has heard her own grandmother tell of him; he is said to lead a solitary life, and to have nobody with whom he can converse save the great old church Bell. Once the Bell hung in the church tower; but now there is no trace left of the tower or of the church, which was called St. Alban's.
Bà kể rằng bà đã nghe chính bà của mình kể về ông ấy; người ta nói ông sống một cuộc đời cô độc, và không có ai để trò chuyện cùng ngoại trừ Chiếc Chuông nhà thờ già cỗi. Ngày xưa Chiếc Chuông từng treo trên tháp nhà thờ; nhưng giờ đây không còn dấu vết gì của tháp hay của nhà thờ, vốn được gọi là nhà thờ Thánh Alban.
"Ding-dong! ding-dong!" sounded the Bell, when the tower still stood there; and one evening, while the sun was setting, and the Bell was swinging away bravely, it broke loose and came flying down through the air, the brilliant metal shining in the ruddy beam.
"Boong! boong!" Chiếc Chuông ngân lên như thế, khi tháp chuông vẫn còn đứng đó; và một buổi tối, khi mặt trời đang lặn, và Chiếc Chuông đang đung đưa hết sức mạnh mẽ, nó bỗng tuột khỏi giá đỡ và bay vút xuống qua không trung, kim loại sáng bóng lấp lánh trong ánh nắng đỏ rực.
"Ding-dong! ding-dong! Now I'll retire to rest!" sang the Bell, and flew down into the Odense-Au, where it is deepest; and that is why the place is called the "bell-deep."
"Boong! boong! Giờ ta sẽ nghỉ ngơi!" Chiếc Chuông hát vang, rồi bay xuống dòng Odense-Au, nơi sâu nhất; và đó là lý do vì sao nơi ấy được gọi là "vực chuông".
But the Bell got neither rest nor sleep. Down in the Au-mann's haunt it sounds and rings, so that the tones sometimes pierce upward through the waters; and many people maintain that its strains forebode the death of some one; but that is not true, for the Bell is only talking with the Au-mann, who is now no longer alone.
Nhưng Chiếc Chuông chẳng được nghỉ ngơi hay ngủ yên. Dưới nơi trú ngụ của Au-mann, nó vang lên và ngân nga, đến nỗi đôi khi âm thanh xuyên qua mặt nước vọng lên trên; và nhiều người quả quyết rằng những âm điệu ấy báo trước cái chết của ai đó; nhưng điều đó không đúng, vì Chiếc Chuông chỉ đang trò chuyện với Au-mann, người giờ đây không còn cô đơn nữa.
And what is the Bell telling? It is old, very old, as we have already observed; it was there long before grandmother's grandmother was born; and yet it is but a child in comparison with the Au-mann, who is quite an old quiet personage, an oddity, with his hose of eel-skin, and his scaly Jacket with the yellow lilies for buttons, and a wreath of reed in his hair and seaweed in his beard; but he looks very pretty for all that.
Và Chiếc Chuông đang kể điều gì? Nó đã già, rất già, như chúng ta đã nói ở trên; nó đã ở đó từ trước khi bà của bà ra đời; ấy vậy mà nó vẫn chỉ là một đứa trẻ so với Au-mann, người là một nhân vật già nua điềm tĩnh, một kẻ kỳ dị, với đôi tất bằng da lươn, và chiếc áo khoác có vảy với những đóa hoa súng vàng làm khuy áo, cùng một vòng lá sậy trên tóc và rong biển trong bộ râu; nhưng dù vậy trông ông vẫn rất đẹp.
What the Bell tells? To repeat it all would require years and days; for year by year it is telling the old stories, sometimes short ones, sometimes long ones, according to its whim; it tells of old times, of the dark hard times, thus:
Chiếc Chuông kể gì? Kể lại hết thì phải mất nhiều năm nhiều ngày; vì năm này qua năm khác nó kể những câu chuyện cũ, khi thì ngắn, khi thì dài, tùy theo hứng của nó; nó kể về những thời xưa cũ, những thời khắc nghiệt tăm tối, như thế này:
"In the church of St. Alban, the monk had mounted up into the tower. He was young and handsome, but thoughtful exceedingly. He looked through the loophole out upon the Odense-Au, when the bed of the water was yet broad, and the monks' meadow was still a lake. He looked out over it, and over the rampart, and over the nuns' hill opposite, where the convent lay, and the light gleamed forth from the nun's cell. He had known the nun right well, and he thought of her, and his heart beat quicker as he thought. Ding-dong! ding-dong!"
"Trong nhà thờ Thánh Alban, có một thầy tu đã leo lên tháp chuông. Anh còn trẻ và đẹp trai, nhưng lại vô cùng trầm tư. Anh nhìn qua lỗ châu mai ra dòng Odense-Au, khi lòng sông còn rộng, và cánh đồng của các thầy tu vẫn còn là một hồ nước. Anh nhìn ra xa, qua bờ lũy, qua ngọn đồi của các nữ tu ở phía đối diện, nơi có tu viện tọa lạc, và ánh sáng le lói từ phòng của một nữ tu. Anh biết rõ vị nữ tu ấy, và anh nghĩ về nàng, tim anh đập nhanh hơn khi anh nghĩ đến nàng. Boong! boong!"
Yes, this was the story the Bell told.
Vâng, đó là câu chuyện mà Chiếc Chuông đã kể.
"Into the tower came also the dapper man-servant of the bishop; and when I, the Bell, who am made of metal, rang hard and loud, and swung to and fro, I might have beaten out his brains. He sat down close under me, and played with two little sticks as if they had been a stringed instrument; and he sang to it.
"Vào trong tháp chuông cũng có tên hầu cận bảnh bao của giám mục bước tới; và khi tôi, Chiếc Chuông, được làm bằng kim loại, rung lên mạnh mẽ và vang dội, đung đưa qua lại, tôi đã có thể đập vỡ óc hắn ta. Hắn ngồi xuống ngay dưới tôi, và nghịch hai chiếc que nhỏ như thể chúng là một nhạc cụ dây; và hắn hát theo tiếng ấy.
"'Now I may sing it out aloud, though at other times I may not whisper it. I may sing of everything that is kept concealed behind lock and bars. Yonder it is cold and wet. The rats are eating her up alive! Nobody knows of it! Nobody hears of it! Not even now, for the bell is ringing and singing its loud Ding-dong, ding-dong!'
"'Giờ đây ta có thể hát vang lớn, dù những lúc khác ta không được thì thầm về nó. Ta có thể hát về mọi điều bị giấu kín sau khóa và song sắt. Ngoài kia lạnh lẽo và ẩm ướt. Lũ chuột đang gặm nhấm nàng khi còn sống! Không ai biết về điều đó! Không ai nghe thấy điều đó! Ngay cả bây giờ cũng không, vì chiếc chuông đang rung lên và ngân vang tiếng Boong, boong to lớn của nó!'
"There was a King in those days. They called him Canute. He bowed himself before bishop and monk; but when he offended the free peasants with heavy taxes and hard words, they seized their weapons and put him to flight like a wild beast. He sought shelter in the church, and shut gate and door behind him. The violent band surrounded the church; I heard tell of it. The crows, ravens and magpies started up in terror at the yelling and shouting that sounded around. They flew into the tower and out again, they looked down upon the throng below, and they also looked into the windows of the church, and screamed out aloud what they saw there.
"Thời ấy có một vị Vua. Người ta gọi ông là Canute. Ông đã cúi mình trước giám mục và thầy tu; nhưng khi ông xúc phạm những người nông dân tự do bằng thuế nặng và lời lẽ hà khắc, họ đã cầm vũ khí lên và đuổi ông chạy trốn như một con thú hoang. Ông tìm nơi trú ẩn trong nhà thờ, và đóng chặt cổng cùng cửa sau lưng mình. Đám đông hung hãn vây quanh nhà thờ; tôi nghe kể về điều đó. Lũ quạ, quạ đen và chim ác là hoảng sợ bay vụt lên trước tiếng la hét gào thét vang lên khắp nơi. Chúng bay vào tháp chuông rồi lại bay ra, chúng nhìn xuống đám đông bên dưới, và chúng cũng nhìn vào những ô cửa sổ nhà thờ, rồi kêu la vang lên những gì chúng thấy ở đó.
"King Canute knelt before the altar in prayer; his brothers Eric and Benedict stood by him as a guard with drawn swords; but the King's servant, the treacherous Blake, betrayed his master. The throng in front of the church knew where they could hit the King, and one of them flung a stone through a pane of glass, and the King lay there dead! The cries and screams of the savage horde and of the birds sounded through the air, and I joined in it also; for I sang 'Ding-dong! ding-dong!'
"Vua Canute quỳ trước bàn thờ mà cầu nguyện; các anh em của ông là Eric và Benedict đứng canh bên cạnh với gươm tuốt trần; nhưng người hầu của Vua, tên phản bội Blake, đã phản bội chủ mình. Đám đông trước nhà thờ biết chỗ nào có thể hạ được Vua, và một kẻ trong số họ ném một hòn đá xuyên qua tấm kính cửa sổ, và Vua nằm đó, đã chết! Tiếng la hét gào thét của đám người hung tợn và của lũ chim vang lên khắp không trung, và tôi cũng hòa vào đó; vì tôi ngân vang 'Boong! boong!'
"The church bell hangs high, and looks far around, and sees the birds around it, and understands their language. The wind roars in upon it through windows and loopholes; and the wind knows everything, for he gets it from the air, which encircles all things, and the church bell understands his tongue, and rings it out into the world, 'Ding-dong! ding-dong!'
"Chiếc chuông nhà thờ treo cao, và nhìn xa khắp nơi, thấy được lũ chim quanh nó, và hiểu ngôn ngữ của chúng. Gió gào thét ùa vào qua các ô cửa sổ và lỗ châu mai; và gió biết mọi điều, vì nó lấy được điều đó từ không khí, thứ bao quanh vạn vật, và chiếc chuông nhà thờ hiểu được ngôn ngữ của gió, và ngân vang điều đó ra khắp thế gian, 'Boong! boong!'
"But it was too much for me to hear and to know; I was not able any longer to ring it out. I became so tired, so heavy, that the beam broke, and I flew out into the gleaming Au, where the water is deepest, and where the Au-mann lives, solitary and alone; and year by year I tell him what I have heard and what I know. Ding-dong! ding-dong!"
"Nhưng điều đó quá sức đối với tôi để nghe và để biết; tôi không còn có thể ngân vang lên được nữa. Tôi trở nên mệt mỏi, nặng nề đến mức xà treo bị gãy, và tôi bay ra dòng Au lấp lánh, nơi nước sâu nhất, và nơi Au-mann sống, cô độc và một mình; và năm này qua năm khác tôi kể cho ông nghe những gì tôi đã nghe và những gì tôi biết. Boong! boong!"
Thus it sounds complainingly out of the bell-deep in the Odense-Au. That is what grandmother told us.
Âm thanh ấy vang lên đầy ai oán từ vực chuông trong dòng Odense-Au. Đó là những gì bà đã kể cho chúng tôi.
But the schoolmaster says that there was not any bell that rung down there, for that it could not do so; and that no Au-mann dwelt yonder, for there was no Au-mann at all! And when all the other church bells are sounding sweetly, he says that it is not really the bells that are sounding, but that it is the air itself which sends forth the notes; and grandmother said to us that the Bell itself said it was the air who told it to him, consequently they are agreed on that point, and this much is sure.
Nhưng thầy giáo lại nói rằng chẳng có chiếc chuông nào ngân vang dưới đó cả, vì điều đó không thể xảy ra; và rằng chẳng có Au-mann nào ngự ở đó, vì chẳng có Au-mann nào cả! Và khi tất cả các chiếc chuông nhà thờ khác đang ngân vang ngọt ngào, ông nói rằng đó không thực sự là tiếng chuông đang vang lên, mà chính là không khí phát ra những âm thanh ấy; và bà nói với chúng tôi rằng chính Chiếc Chuông cũng nói rằng chính không khí đã bảo cho nó biết điều đó, vậy nên họ đều đồng ý về điểm ấy, và điều này là chắc chắn.
"Be cautious, cautious, and take good heed to thyself," they both say.
"Hãy thận trọng, thận trọng, và hãy tự giữ mình cẩn thận," cả hai đều nói vậy.
The air knows everything. It is around us, it is in us, it talks of our thoughts and of our deeds, and it speaks longer of them than does the Bell down in the depths of the Odense-Au where the Au-mann dwells. It rings it out in the vault of heaven, far, far out, forever and ever, till the heaven bells sound "Ding-dong! ding-dong!"
Không khí biết mọi điều. Nó ở quanh ta, nó ở trong ta, nó kể về những suy nghĩ và những việc làm của chúng ta, và nó kể về chúng lâu hơn cả Chiếc Chuông dưới đáy sâu của dòng Odense-Au, nơi Au-mann ngự trị. Nó ngân vang lên tận vòm trời, xa, thật xa, mãi mãi và mãi mãi, cho đến khi những chiếc chuông thiên đường ngân vang "Boong! boong!"